Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

 
 

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
 
ĐH New South Wales
ĐH Central Queensland
ĐH Charles Darwin
ĐH Edith Cowan
ĐH Sunshine Coast
ĐH Ballarat
ĐH Southern Queensland
ĐH Charles Sturt
ĐH Australian Catholic
ĐH Victoria
ĐH Canberra
Đại học Southern Cross
ĐH Swinburne
ĐH James Cook
ĐH Western Sydney
ĐH New England
ĐH Deakin
Đh South Australia
ĐH RMIT
ĐH Murdoch
Đại học Flinders
ĐH Công Nghệ Curtin
Đại học Central Queensland
Đại học Charles Darwin
Đại học Edith Cowan
Đại học Sunshine Coast
Đại học Ballarat
Đại học Southern Queensland
Đại học Charles Sturt
Đại học Australian Catholic
Đại học Victoria
Đại học Canberra
Đại học Southern Cross
Đại học Swinburne
Đại học James Cook
Đại học Western Sydney
Đại học New England
Đại học Deakin
Đại học South Australia
Đại học RMIT
Đại học Murdoch
Đại học Flinders
Đại học công nghệ Curtin
ĐH Công Nghệ Sydney
ĐH Griffith
ĐH Tasmania
ĐH Newcastle
ĐH La Trobe
ĐH Wollongong
ĐH Công Nghệ Queensland
ĐH Macquarie
Đại học Adelaide
Đại học Tây Úc
Đại học Monash
ĐH Queensland
ĐH Sydney
ĐH Melbourne
ĐH Quốc gia Úc
 
     
 
CÁC KHÓA HỌC
 
Teacher Training
Refrigeration and air conditioning
Private and Commercial Pilot
Patisserie
Nursing
Internship
Horticulture
High school
Haidressing
Graphic Pre-press
Graphic Design
English language
Dental Technology
Commercial cookery
Automotive
Accounting
 
     
 
TƯ VẤN TRỰC TUYẾN
 
TP. Hồ Chí Minh
 
     
DI TRÚ » Đời sống việt kiều
 
Nghề hát rong trên hè phố Sydney
 
Cũng như tại nhiều thành phố đông đúc khắp nơi trên thế giới, Sydney đón nhận một số nhạc sĩ, nhạc công chuyên ngồi vỉa hè để chơi đàn, thổi sáo hay cất tiếng hát lanh lảnh, oang oang.
 
Khán thính giả là những người qua lại tò mò liếc mắt, ghé tai; họ cũng không quên không lật ngược chiếc nón, đặt ngay ngắn cái khay hay mở toang hộp đựng nhạc cụ chờ thiên hạ động lòng ái mộ. Dẫu trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn hiện tại, số người đàn hát rong không vì thế mà giảm sút.

Cái thuở ban đầu

Không như tại Việt Nam, nghề đàn ca hát xướng rong ruổi trên đường phố khởi sự và lâu năm nhất phải kể đến những bác hát xẩm tại Hà Nội, cha con người hành khất mù lòa tại Saigon vào thời Bảo Đại còn ngồi trên ngôi Hoàng đế; mỗi khi đèn đường vừa loé sáng vào lúc nhiềâu gia đình vừa dùng xong cơm tối, họ xuất hiện trong những con hẻm nhỏ hay trên những con đường còn trải đá giăm cất giọng bi thương, oai oán than cho số phận hẩm hiu; thoạt tiên là những câu ca ngắn chẳng có kết cấu bài bản lần hồi chuyển sang loại nhạc “trăng sáng vườn chè” hay “lửa bừng lên với những răng vàng lấp lánh”; một vài tấm lòng nhân ái từ trong nhà chạy vụt ra; tiếng hát đột nhiên ngừng hẳn và thay ngay bằng những lời cảm ơn dẻo kẹo quen thuộc; hoặc quy mô hơn nữa là những gánh hát cải lương nho nhỏ quy tụ ba bốn chục đào, kép, chạy cờ, nhắc tuồng kiêm luôn thầy viết kịch bản rày đây mai đó trên những chiếc thuyền gỗ bồng bềnh luồn lắt qua kinh rạch đi từ làng này sang làng nọ của miền sông nước Cửu Long - thường mượn nhà lồng chợ hay dưới mái đình làm nơi diễn tuồng với những bài vọng cổ mùi mẫm bắt đầu vào thời “Dạ Cổ Hoài Lang” của đất Bạc Liêu đi ra cho đến hôm nay vẫn còn hiện hữu (tuy có cải đổi tân tiến đôi chút).

Tại Sydney, chuyện hát rong bắt đầu xuất hiện trong những năm Quân đội Hoàng gia Úc khởi sự nhận lời kêu gọi của Hoa kỳ tham chiến tại Nam Việt Nam (1963-65); số là một nhóm thanh niên bày tỏ thái độ chống đối nhập ngũ vì bị gởi ra nước ngoài nên tụ tập nhau lại thành “guru” đầu hớt “cua”, đi chân đất, mặc áo chùng kiểu Trung Đông màu gạch cua nhạt, đeo trống cơm trước bụng, vừa bước cách nhàn du vừa vỗ bập bùng trong khi miệng hát lớn những lời ca ngợi hòa bình; họ không nhận tiền bố thí, không phát kinh điển hay sấm truyền nhưng lại thu hút nhiều người hiếu kỳ.

Có lẽ đoàn hát rong “guru” gợi ý cho ai đó có máu nghệ sĩ nên bắt đầu từ cái ngày mà nữ hoàng Ăng-lê qua khánh thành Nhà Sò Sydney (năm 1973), tự nhiên người ta thấy bóng dáng nghệ sĩ vỉa hè theo kiểu Âu châu trên đường phố đông đúc bộ hành qua lại như khu Martin Place (Bưu Điện Trung Ương Sydney), công viên trước ga tầu điện trung ương, lối đi bộ từ Circular Quay đến Opera House. Nhất là tại khu bến phà, một vài nhóm nhỏ hoặc đôi ba người ngồi rải rác khảy đàn guitar, thổi sáo dọc với mục đích muốn “ông đi qua, bà đi lại” tỏ lòng từ tâm bỏ vào khăn vải trải trước mặt chút tiền để... độ nhật! Lúc ấy, người di dân thường có đầu óc hiếu kỳ ở Sydney không đông như hiện nay, còn dân Úc gốc Ăng-lê thì lúc nào cũng lạnh như đồng tiềân 10 xu, nên những người nghệ sĩ vỉa hè khởi động không nhằm lúc. Cũng có lời giải thích rằng thập niên 70 vẫn còn là thập niên “việc nhiều, người ít” nên không những chẳng mấy ai tỏ ra thương hại cho người “khảy đàn” mà còn “coi rẻ” họ vì ngỡ đấy là những “chàng hủi” muốn mượn tiếng đàn, tiếng quyển và giọng ca để đi “khất thực” – lấy miệng lưỡi đỡ tay chân. Vì vậy, nghề hát hỏng trên vỉa đường Sydney bị nghẹt ngòi và lu mờ cho đến một ngày...

Du nhập từ trời Âu

Phong trào hát dạo trên vỉa hè, khu công viên, quảng trường xuất hiện ở Âu châu ngay sau Đệ nhị Thế chiến. Từ những nhóm hát rong đã có những nhân tài trổi bật trở nên những ngôi sao âm nhạc, những nghệ sĩ ưu tú. Người dân Ba-lê (Pháp) , Luân-đôn (Anh), Rôm (Ý), Bruxelle (Bỉ) hay bất kỳ thủ đô của quốc gia Âu châu nào cũng đều yêu mến, ái mộ nhạc sĩ vỉa hè cách chung chứ không thờ ơ, coi thường như ở những phần đất khác trên thế giới chẳng hạn như tại Úc, tại Việt Nam. Người ta kể lại rằng, một nghệ sĩ với cây phong cầm chuyên hát dạo trên nhiều thành phố của Pháp đã thành lập được ban nhạc mang tên Istes mà ngày nay rất nổi tiếng trình diễn tại nhiều nơi khắp Âu châu, qua Mỹ, Canada, đến Nhật, Trung Quốc và cả Việt Nam. Nhạc sĩ đó là mộït người Pháp lai Việt tên Matthew Hà thích âm nhạc từ hồi lên 9. Khi niềm đam mê âm nhạc đã thấm vào tim, ngấm vào từng thớ thịt và huyết quản thì Matthew Hà bắt đầøu chơi nhạc một mình và biểu diễn trên đường phố. Một vài nghệ sĩ “vỉa hè” giải thích rằng “Hát trong rạp gò bó vì chương trình định sẵn; còn hát trên đường phố, có bao nhiêu vốn tuôn ra hết, chẳng cần khuôn phép”. Vài ca sĩ từ Việt Nam qua Canada, thấy đồng nghiệp nước người trổ tài biểu diễn trên hè phố mà tiền “cát-sê” còn nhiều hơn được “bầu sô” ban bố nên cũng nhập vô hát hỏng và có lời nhận xét “Nghệ sĩ Việt Nam ít có ai dũng cảm mang thân ra đường phố biểu diễn và nếu có thì hò hát hết hơi cũng chưa chắc đủ tiền ăn bát phở 24”.

Từ phong tào mạnh mẽ bên Âu châu mang theo những “tâm hồn nghệ sĩ phiêu bạt vỉa hè” đến Úc vào những năm 1977-80 (khi đồng tiền Úc bị đánh sụt xuống so với Mỹ kim) để rồi từ năm 1983 đột nhiên nhiều nhạc sĩ da trắng khảy đàn, gõ trống trên hè phố nhằm kiếm tiền “độ nhật”. Riêng tại khu thương mại Cabramatta, Bankstown – nơi tập trung nhiều người Việt buôn bán, mua sắm – mãi tới đầu năm 1990 thấy xuất hiện bốn nghệ sĩ chơi đàn, thổi sáo; đó là một người gốc hải đảo Thái Bình Dương chuyên thổi Khẩu cầm, khảy guitar phành phạch; thứ đến là 2 người Hoa gốc Trung Quốc, một kéo đàn nhị ò-e e-ò, một thổi sáo ngang vù-vù vè-vè thánh thót du dương; cả 2 nhạc sĩ này có vẻ “chuyên nghiệp” vì vừa chuẩn bị từng chồng CD để bán lại vừa mở nón nhận tiền và thứ tư là 1 người Việt lòng mang triu trĩu một tâm sự u buồn. Hiện tại người thứ nhất vẫn đeo đuổi nghiệp dĩ ở cùng khu vực; 2 người Hoa lâu lâu mới tái xuất giang hồ; còn người thứ tư sau khi kể ra được nỗi niềm uẩn khúc của mình thì vắng biệt luôn. Ông đã thuật cho anh chị Tiến – Phụng về hoàn cảnh đưa đẩy ông đến chỗ thảm sầu, chỉ còn mượn tiếng sáo cho tiêu giao ngày tháng, quên đi quá khứ huy hoàng. Ông được nhắc về Đức Chúa Trời vốn là Đấng an ủi qua phân đoạn Kinh Thánh “Vậy các ngươi đừng kiếm đồ ăn đồ uống, cũng đừng có lòng lo lắng. Vì mọi sự đó, các dân ngoại ở thế gian vẫn thường tìm, và Cha các ngươi biết các ngươi cần dùng mọi sự đó rồi. Nhưng thà các ngươi hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời, rồi mọi sự đó sẽ được cho thêm” (Lu-ca 12:29-31).

Nói chung, số nhạc sĩ vỉa hè của thành phố Sydney nay đã đông và đa dạng từ màu da, mái tóc đến lối ăn mặc và cả nhạc cụ. Người bản địa, mặt quét ba bốn lằn vôi trắng, khoanh tròn chung quanh mắt nhiều vệt, để trần phần trên cơ thể, phần dưới che bằng vải may sơ sài nửa quần đùi nửa khố, vẫn với ống tù-và dài cả thước làm bằng một loại thân cây nhỏ rỗng ruột, ngoài có trạm trổ hình thù thằn lằn rắn mối; ông ta phùng mang thổi trong khi năm ngón tay chụm lại đóng mở những lỗ hở trên thân ống tù-và tạo thành âm thanh ù- ù oà-oà vang dội góc phố. Khách bộ hành qua lại, hiếu kỳ bu quanh; có người ngồi xề bên cạnh mượn vài ba thanh gỗ gõ lạch cạch để bạn bấm giúp 1 tấm hình kỷ niệm; trước khi đứng dậy nhẹ nhàng đặt vào tay nhạc sĩ bản địa tờ 20 đô; ông ta gật đầu rồi ném ngay tấm giấy bạc xuống khuôn vải trải trước mặt nằm lệch lạc với dăm ba tờ khác trong đó có cả tờ 50 đô và những đồng tiền cắc đủ khổ lớn, nhỏ, trắng, vàng! Ngang bến phà đi Manly và cửa ra vào nhà ga tầu điện Circular Quay là “sân trình diễn của chàng”; ông ta mặc nhiên chiếm cứ chỗ này mấy chục năm nay, chẳng ai đuổi và cũng chẳng ai giành! Một đôi ngày có người Úc lai Aborigine kết bạn cùng hòa tấu tù-và như những con chim rừng cúc-cu-ba đang đùa giởn với nhau nơi hoang dã. Mái tóc người nhạc sĩ bản địa đã hoa râm, làn da trước vầng trán đã có nếp, đôi má đã hõm lại, nhưng tiếng tù-và của ông vẫn còn căng sức sống! Ông rất hài lòng với số tiền hơn trăm đô một ngày nên siêng năng có mặt tại đây từ thứ Tư đến Chúa Nhật mỗi tuần quanh năm suốt tháng; họa chăng có hôm vắng mặt vì người không khỏe hoặc do đêm trước quá chén say mèm khiến sáng sau chẳng thể nào gượng dậïy nổi! Những nhạc sĩ khác, mỗi người choáng một nơi từ ga tầu điện trung ương, xuyên qua khu phố Tầu, cạnh bên Darling Harbour, trước cổng vườn hoa Trung Hoa, trong Vườn Thảo Mộc, ngoài Hyde Park, khoảng trống nơi đài Chiến sĩ cạnh tòa nhà Bưu điện chính; họ là người gốc Nam tư, Tiệp khắc, Anh, Pháp, Phi luật tân, Trung hoa; có khi từng nhóm đôi, ba người; có khi lẻ loi một mình. Họ không như người nhạc sĩ bản địa kia ngày qua ngày mọc rễ một chỗ mà nay nơi này, mai nơi khác chung quanh khu thị tứ thuộc Sydney hay đôi lúc đi sang các thành phố nơi xa như Brisbane, Melbourne, Adelaide hoặc Perth. Cảnh sát, Sở Di trú, Sở Xã hội hay Thuế vụ chưa bao giờ làm khó dễ họ vì dường như các cơ quan này hiểu rằng họ đã thay người Úc chánh gốc Ăng-lê làm một điều gì đó lôi kéo du khách thập phương, tô điểm sắc mầu cho các thành phố Úc vốn yếu kém về sức thu hút. Quả thật, phần lớn họ là những nhạc sĩ hát rong tài tử mong thi thố tài năng phục vụ người nghe cho thỏa chí nghệ sĩ; họ không chỉ đến Úc cốt để kiếm tiền sống mà chỉ ngao du một thời gian rồi lại bay qua nước khác.

Liệu có đủ sống?

Phải nói ngay, một “nghệ sĩ vườn” ngồi nghêu ngao trên hè phố khu Cabramtta, Bankstown hay Marrickville mỗi ngày không kiếm nổi tiền đủ mua 3 chiếc hamburger với vài chai nước suối dùng trong 3 bữa sáng, trưa, chiều. Kẻ viết bài mất 3 ngày trời để quan sát anh chàng hải đảo ôm đàn “tích tịch tình tang, ai mang công chúa dưới hang về giùm” dựa vào vách tường nơi đông người qua lại tại Cabramatta. Mặt anh lúc nào cũng tươi, môi anh vì thổi khẩu cầm quá thường xuyên nên trệ hẳn xuống để lộ hai hàm răng trắng hếu. Nước da bánh mật của anh nay đã dạn dầy nắng gió nên đã sạm đen. Chiếc khăn trải rộng trước mặt lúc nào cũng phẳng phiu, được một vài ba hòn đá cuội chặn các góc e sợ gió thổi bay. Anh có mặt nơi đây khi mặt trời chiếu rọi nóc phố bắt đầu với món nghề ruột “pù pu pu pu pú pù”. Dầu chẳng ai chú ý, nhưng anh vẫn thản nhiên say sưa theo dòng nhạc, thả hết tâm hồn vào âm hưởng “nhát gừng”. Không hiểu anh có nhận ra chính anh không, chứ kiểu cách chơi nhạc của anh không thể nào lôi kéo được ai; buồn chẳng ra buồn, vui chẳng ra vui; nó cứ như ngồi nhơi cơm nguội! Anh quả là một nhạc sĩ duyên đen phận bạc vì chưa bao giờ thấy có người bao quanh để thưởng thức âm nhạc của anh. Một vài em bé trì tay mẹ cố đứng lại xem chiếc áo mầu mè anh đang mặc thì bị lôi xệch đi; hoạ hoằn mới nghe được một, hai đồng tiền vàng của ai đó ném xuống kêu cái cạch khô khan! Khác với những nghệ sĩ hàng chú bác, anh chưa bao giờ dám đặt tờ $5 hay $10 của mình trên khăn vải để “cò mồi”, vì chỉ sợ trúng giờ “Thái bạch” có kẻ xấu bụng lẹ tay chụp tiền vụt bay thì “công cốc”; thế nên cũng chưa bao giờ anh nhận được một tờ giấy 5 đô của người qua lại! Gom trọn số tiền cắc để đếm vào lúc cuốn gói, anh có được khoảng 3, 4 chục. Muốn đến những khu đông người qua lại dưới phố Sydney đòi phải có một bộ dạng, một tay nghề tuy không lão luyện cũng phải trung bình; bằng không chẳng cầm chân ai được – hơn nữa nơi đó có nhiều “nhân tài”, nên các nhạc sĩ vườn đành phải chịu “có rau ăn rau” theo những gì có thể có được ở “vùng quê”.

Tại Sydney, nghề hát rong tuy cũng có một quá trình, nhưng thực sự người Sydney không lãng mạn như người của Ba-lê, không ướt át như người của Luân-đôn, không nóng bỏng như người của Vienne và chẳng hiếu kỳ như dân Saigon; thành thử nghề ngỗng hát rong nằm bẹp tại chỗ; chưa bao giờ có thể chứng kiến cảnh trăm người vây quanh một vài anh, chị hát dạo như từng có tại nhiều nơi ở Âu châu. Thảng hoặc, trong lúc giờ nghỉ trưa, dân dưới phố Sydney có hàng vài trăm người ngồi gặm bánh mì, nhai khoai tây chiên bao quanh một ban nhạc hòa tấu nơi thác nổi khu Martin Place. Họ thích thưởng thức một “đại ban” từ Học viện Âm nhạc Sydney, từ Học viện Cảnh sát, từ Trường Cứu hỏa, từ Trung học Tư thục King, từ North Sydney Girls để vừa nghe nhạc vừa ăn thoải mái mà khỏi phải bận tâm xót ra bỏ ra chút đồng “làm nghĩa”. Đa số họ đang bù đầu vào công việc kinh doanh nên chẳng muốn dừng chân nghe nhạc hát dạo. Trong trạng huống đó, người hát vỉa hè của Sydney mãi mãi là người hát vỉa hè be bé kiếm cơm qua ngày chứ không đủ cảm hứng hoặc được khích lệ để “vươn lên tầm cao mới”. Buồn ơi, ta chào mi là vậy!

BB sưu tầm
 
 
Các tin liên quan
Giấc mơ nước Úc
Tết với thế hệ thứ 2 ở Úc
Làm giàu bằng cách... phá nhà
Vấn nạn trồng cần sa tại Úc
Xu hướng sống trong những ngôi nhà ngày càng lớn ở Úc
Học nghề theo ý cha mẹ
Nan giải với tiếng Việt và văn hóa Việt
Ưu tiên lấy vợ Việt
Lấy chồng Việt Kiều
 
 
VIDEO Giới Thiệu
     
 
THỊ THỰC (VISA)
     
 
THỐNG KÊ
 
Đang Online: 4
Lượt truy cập: 65408
     
© 2009 BLUE Bridge HCM | Liên hệ